Hiện nay, so với các phương tiện giao thông khác, máy bay được coi là phương tiện tốt nhất cho sự di chuyển hành khách cần tốc độ. Và trong kỳ nghỉ lễ sắp tới, nhiều người muốn đi du lịch, đi nghỉ dưỡng, hoặc đi chữa bệnh bằng đường hàng không. Tuy nhiên hầu như tất cả các hãng bay đều quy định người đi máy bay phải có sức khỏe tương đối tốt trước và trong khi bay, vì vậy có một số bệnh nhân không thể đi máy bay vì sự an toàn của chính mình cũng như của toàn bộ các hành khách khác và phi hành đoàn.

Bài viết dưới đây sẽ cùng bạn đọc giải đáp vấn đề những người mắc bệnh nào, cụ thể ra sao đi được và không đi được máy bay.

Những bệnh không được phép đi máy bay

Việc quyết định một bệnh nhân có nên đi máy bay hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó bản chất, mức độ nặng hay nhẹ của bệnh và các yếu tố: thời gian của chuyến bay, độ cao bay, chịu áp suất bay thế nào, hay việc cung cấp ôxy và các thiết bị y học đầy đủ đến đâu, có bác sỹ và điều dưỡng viên đi cùng hay không và một số vấn đề lưu ý đặc biệt khác.

Mặc dù nhiều hãng hàng không của các quốc gia quy định không cho phép sử dụng bình ôxy cá nhân, nhưng trên một số chuyến bay người ta sẽ cung cấp bình ôxy theo yêu cầu của bác sỹ vì sự cố y học thường gặp nhất trên máy bay chính là thiếu ôxy, và một số trường hợp khẩn về tim mạch, ngất, bệnh liên quan đến thần kinh…

Những căn bệnh và các điều kiện cần thiết đi hoặc không được đi máy bay:

Một số bệnh về tim mạch:

Các trường hợp bệnh nhân bị bệnh tim mạch không được phép đi máy bay gồm: bệnh tim mất bù; suy tim sung huyết; bệnh động mạch vành có tăng huyết áp nặng, tăng huyết áp mà chưa được kiểm soát tốt; những bệnh nhân có cơn đau thắt ngực mới phát nặng hoặc chưa hoàn toàn ổn định; những bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch sâu.

 

Bệnh nhân tim mạch cần cẩn trọng khi đi máy bay

Những trường hợp bệnh nhân bị bệnh tim có thể đi máy bay: những bệnh nhân bị bệnh tim mất bù nhưng đã được điều trị hợp lý, tim đã được bù; hoặc những bệnh nhân bị bệnh tim mất bù được đi trên máy bay trang bị phương tiện tạo áp suất ôxy 100% trong suốt chuyến bay; những bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp đã phục hồi và bắt đầu không có triệu chứng từ 6 tuần trở lên; các bệnh nhân đau thắt ngực nhẹ hay vừa có thể cho đi máy bay, nhưng tốt nhất là máy bay có thiết bị tạo áp suất và có ôxy; các bệnh nhân có bệnh về van tim hoặc tim còn bù khác chỉ được phép bay ở độ cao từ 2.400-2.800m.

Nếu bệnh nhân muốn tham gia những chuyến bay có độ cao cao hơn thì máy bay đó phải được trang bị các phương tiện tạo áp suất và cho bệnh nhân thở ôxy bắt đầu từ độ cao 2.400m trở lên.

Một số bệnh về hô hấp:

Những trường hợp bị bệnh hô hấp không nên đi máy bay: những bệnh nhân đang lên cơn hen; bệnh nhân ở tình trạng hen nặng; những bệnh nhân có nang phổi bẩm sinh; những bệnh nhân bị lao đang hoạt động, hoặc có lây nhiễm hoặc tràn khí màng phổi; những người khó thở khi nghỉ ngơi; những người mức độ thiếu ôxy máu và tăng anhydrid carbonic mức độ nặng…

Người bị hen cần chú ý khi đi máy bay

Những trường hợp bệnh nhân bị bệnh hô hấp có thể đi máy bay là: bệnh nhân dị ứng mũi và nhiễm khuẩn (lưu ý trường hợp này sau khi bay dễ phát triển bệnh viêm tai do áp lực khí), bệnh nhân hen nhẹ có thể đi máy bay bình thường.

Các bệnh khác:

Phụ nữ đang mang thai:

Phụ nữ đang mang thai trong 8 tháng đầu có thể di chuyển bằng máy bay bình thường, ngoại trừ trường hợp người có tiền sử sảy thai hay đẻ non liên tiếp. Thai phụ mang thai tháng thứ 9 không nên đi máy bay, nếu cần thiết đi thì phải có sự cho phép của bác sỹ. Trẻ nhỏ dưới một tuần tuổi không nên cho bay (một số hãng cấm bay).

Bệnh nhân thiếu máu:

Trường hợp người bị thiếu máu nặng, hemoglobin dưới 8,5g/dl hoặc người có số lượng hồng cầu dưới 3 triệu/ml không được phép đi máy bay cho đến khi được điều trị, lượng hemoglobin đã tăng đến mức hợp lý. Nếu bệnh nhân có lượng hemoglobin dưới 8,5 – 9g/dl thì cần chuẩn bị sẵn ôxy trên máy bay. Đối với những bệnh nhân bị bệnh tế bào hình liềm thường rất dễ bị rối loạn khi đi máy bay nên chú trọng chọn chuyến bay có độ cao thấp và quãng đường bay gần.

Thai phụ dưới 8 tháng được phép đi máy bay

 

Bệnh nhân bị đái tháo đường:

Những bệnh nhân đái tháo đường mà không cần sử dụng insulin hoặc chỉ dùng insulin mang theo mình thì có thể bay an toàn. Những bệnh nhân bị đái tháo đường “dao động” đang chịu những cơn hạ đường huyết thì cần được kiểm soát tốt trước khi lên máy bay. Những bệnh nhân này nên mang đường hay kẹo theo dùng trong khi bay đề phòng phản ứng hạ đường huyết. Trong trường hợp chuyến bay kéo dài, việc điều chỉnh thời gian sử dụng  insulin trước khi bay qua các múi giờ cần được bác sỹ hướng dẫn.

Trường hợp bệnh nhân mới phẫu thuật:

Những trường hợp bệnh nhân sau phẫu thuật hoặc sau khi chấn thương mắt phải đi trên các chuyến bay có cabin áp lực và liệu pháp ôxy để tránh việc tổn thương võng mạc do thiếu ôxy và các bọt khí trong mắt. Bệnh nhân mới phẫu thuật không nên đi máy bay trong 10 ngày sau khi phẫu thuật bụng và 21 ngày sau khi phẫu thuật ngực; sau đó chỉ đi máy bay khi đã lành vết mổ và không phải dẫn lưu.

Những bệnh nhân phải mở thông đại tràng có thể bay miễn là không có mùi ảnh hưởng đến hành khách khác và các túi mở thông đại tràng đã thay mới trước khi bay. Bệnh nhân bị thoát vị bẹn hay thoát vị đùi to, không được đỡ bằng băng treo hoặc bó thì không được đi máy bay nếu máy bay không có các thiết bị tăng áp lực vì tăng nguy hiểm nghẹt ruột thoát vị.

Bệnh nhân bị rối loạn tâm thần:

Bệnh nhân bị loạn thần nặng, hoặc trong trạng thái kích động, hoặc loạn trí không được đi máy bay kể cả khi có bác sỹ đi kèm. Bệnh nhân mắc chứng dễ hoảng loạn hay sợ hãi có thể đi máy bay nhưng phải uống thuốc an thần để trấn tĩnh trước và trong khi bay.